Phố Huế

Trước năm 1920, đoạn dưới phố Huế còn vắng vẻ, hai bên đường nhà cửa thưa thớt, nhà lá nấp trong hàng rào cây, xen giữa là ruộng lúa, hồ ao và gò đống tha ma; phía trên lên đến gần chợ Hôm mới có nhà gạch một tầng; chỗ cuối phố, giáp cửa ô cầu Dền mới đông nhà. Dọc phố Huế khi ấy đoạn ngang nghĩa địa Tây và trường thể dục người ta coi là ngoại ô rồi.

Đoạn phố Huế qua thôn Yên Nhất vẫn giữ quang cảnh làng xóm xưa; đình Yên Nhất còn có tên là đình Hàng Quạt, ở sát mé đường là chiếc cổng tam quan lớn, trong sân đình có cây đa cổ thụ và giếng nước, mé cổng có ông thày bói ngồi đợi khách kiếm ăn. Quang cảnh đó tồn tại mãi đến năm 1933. Sau đó, cây đa giếng nước cũng như tam quan không còn; đình bị che lấp vì một ngôi nhà một tầng bên ngoài, gọi là Quán Trung đồ, một ngôi nhà dùng làm noi nghỉ chân cho các đám tang rước từ trên phố xuống qua đầy để đi đến nghĩa trang Hợp Thiện ở Quỳnh Lôi.

Người làng Yên Nhất ở tập trung từng quãng dọc đường phố Huế, chỗ đông nhà có ngõ đi vào bên trong, những ngõ này lại có nhiều ngách ngang. Cạnh đỉnh Yên Nhất có đặt điếm tuần canh ban đêm. Người làng có nhiều nghề phụ như tráng bánh đa, đột cúc quạt giấy. Quạt làm ở trong nhà, ngoài nghe thấy tiếng gõ chí chát, quạt bán buôn ở các chợ và các hiệu trên phố; dọc đường có nhiều nhà tranh của những gia đình làm nghề kéo xe, buôn bán vặt ở chợ ô hoặc làm thợ mộc rong, làm thuê đủ mọi thứ công việc cho các nhà trên phố. Vì vấn đề an ninh, người có cửa không ai dám dọn nhà ở ra sát mặt đường.

Phố Huế đoạn cuối này trong một thởi gian dài của những năm mười, hai mươi, mới chỉ có dãy nhà gạch hai mươi tư gian, vì vậy người ta quen gọi là “đoạn phố Huế hai mươi tư gian”, gọi chung cả phía dưới đó. Đoạn này được mở mang nhiều là từ khi ở phía bên phải đường cái, bên phía đống, khu vực trường thể dục được quy hoạch lại và xây dựng nhanh chóng, những nám cuối ba mươi, nhà cửa cho thuê giá cao và đắt khách, người cố tiền ở trén phố đua nhau xuống phía ô cầu Dền tậu đất làm nhà.

Chỗ cạnh nghĩa địa Tây là nơi có nhà gạch đầu tiên ở đoạn phố Huế gần ô này. Trước đó chỉ có mấy ngôi nhà lá của Cai Xưởng làm cho phu đổ đất của anh ta thuê ở. Dãy nhà gạch hai bốn gian có từ những năm thập niên đầu thế kỷ. Một nhà thầu khoán là Lưu Minh Châu người làng Giáo Phường, thầu san lấp khu nghĩa địa Tây, mua rẻ được chỗ đất bên cạnh đường cái, đã xây dãy nhà hai tầng hai bốn gian sát mặt đường và hai dẫy bên trong nhà một tầng, có cổng đi vào, đặt tên là ngõ Đông Xuyên (nay là số nhà 257 phố Huế), còn dãy hai bốn gian là từ số nhà 235 đến số nhà 257 phố Huế).

Dãy hai tư gian là một xóm cô đầu từ những năm cuối thập niên mười; tuy nhiên mé đường trước mặt hai tư gian và phía dưới vẫn là một con đường cái trống trải ít nhà cửa, nếu có thì cũng là những nhà tranh tre, từng quãng là đồng ruộng và hồ aò kéo dài đến tận gần cửa ô; trong đêm tối dãy nhà cô đầu hai tư gian nổi bật vì đèn sáng và âm thanh đàn hát, trống chầu tom chát, nhộn nhịp khách ra vào.

Khoảng năm 1923-1924, trong làng Yên Nhất xảy ra một vụ cháy lớn, sau đó ở khu vực này nhà tranh không còn mấy và người làng không được phép làm lại nhà tranh lá nữa. Phố Huế vẫn còn là con đường đá, không vỉa hè, không cống rãnh, hai bên đường cái trồng bàng. Khi có đường xe điện thì đường tàu đi sát mé bên phải từ trên xuống. Quãng dưới bên trong đường xe điện là hồ Nhà máy Diêm, hồ rộng nhưng không sâu, nhà máy dùng làm nơi ngâm gỗ bồ đề. Sát đường cái có hàng rào nứa, vào cổng nhà máy phải qua một chiếc cầu gỗ bắc qua một lạch nước rộng.

Sau khi có dãy hai mươi tư gian của Lưu Minh Châu, người làng Yên Nhất cũng làm nhà ra mặt đường cái tại khúc dưới phố Huế. Nhà ông Lang Giá (gia đình có người làm lang thuốc, vừa có nghề ngâm giá đỗ) là một trong số những nhà làm sớm nhất; nhà Từ An (tức gia đình Trần Văn Thư) nay là số nhà 234, năm 1925 (phí tổn hết 300 đồng, công thợ nề 0,10đ một ngày); nhà này làm sớm nên tường đằng trước nay còn thấy nhô ra sát mặt đường phố choán hết cả vỉa hè. Lê Trung Châu (con Tổng đốc Lê Trung Ngọc, người Công giáo, góp phần xây dựng nghĩa địa Công giáo ở đầu phố Larrivée, nay là phố Nguyễn Công Trứ) cũng làm một dãy nhà ở bên dưới “hai mươi tư gian” cho thuê. Những gia đình cũ ở đoạn phố Huế này còn gia đình ông giáo Trần Lê Nhân (ngưòi cùng vói Nguyễn Văn Ngọc mở tủ sách cổ văn Việt Nam); gia đình Hồ Quang Liên (công chức Sở Hưu bổng).

Phố Huế thành con đường phố đông kín nhà thì xóm ả đào phải dọn đi nơi khác, xuống Vạn Thái, ngã tư Trung Hiền, vì có đơn khiếu nại của người hàng phố, không chịu được cảnh ồn ào mất trật tự ban đêm. Tuy thời kỳ đầu phố Huế chỉ có nhà của công chức và nhân viên sở tư, ở đây dần dần có thêm nhiều cửa hàng buôn bán và sản xuất thủ công. Một xưởng làm khung trại ờ bên dưới gần dãy “hai bốn gian”. Dãy hai bốn gian rồi cũng bị xé lè bán lại từng căn nhà cho nhiều chủ: họ sửa chữa cải tạo lại mặt trước, đa số thành cửa hàng, vì thế mà nó không còn là một dãy dài nhà cùng kiểu giống nhau nữa.

Đoạn phố Huế gần ô cầu Dền quang cảnh có khác với đoạn Đông Tân bên trên vì có nhiều nhà lớn nhiều tầng làm về sau trong thời kỳ kỉnh tế phồn thịnh của những năm 1936-1942, thời kỳ phía bên trong chỗ đất cũ trường thể dục đang mở mang xây dựng thành khu dân cư hiện đại.

Hồ Nhà máy Diêm được san lấp, nhiều người ỉàm công trong nhà máy mua được đất giá rẻ, xây nhà: Văn Đức Ngôn thư ký kế toán nhà máy xây ba ngôi nhà gác liền nhau.

Chiến sự cuối năm 1946 đầu 1947 chỉ phá hoại nhiều ởkhu vực rhnng quanh của ô, vì tại đây có đắp ụ chiến đấu.

02/02/2018

Bình Luận

Xem thêm các bài liên quan

Gửi câu hỏi

Tên bạn (*):
Email (*):
Câu Hỏi (*):