Khu vực tả Biên Giám cũ

Khu vực mang tên gọi thông thường Sinh Từ mới có từ ngót một trăm năm nay. Một khu rộng mà khi xưa gồm các thôn xóm Văn Tân, Nam Hưng, Ngọc Hồi (nay là phố Nguyễn Khuyến), Hậu Bà Ngô, Tả Bà Ngô (phố Ngô Sĩ Liên và phố Văn Miếu), Hữu Giám và Lương Sử (phố Quốc Tử Giám, phố Trần Quý Cáp). Khu này một bên giáp Văn Miếu, một bên giáp Cửa Đông Nam thành Hà Nội. Sử sách cho biết đây là một khu vực giàu tính chất văn hóa qua nhiều đời và nơi thổ cư của tầng lớp phong kiến quý tộc thời Hậu Lê.

Sang đời Nguyễn, nơi đây vẫn còn là khu mang truyền thống học tập, Văn Miếu vẫn tượng trưng cho đạo thánh hiền: các làng xóm mang những tên Văn Chưong, Lương Sử... Không phải ngẫu nhiên mà dinh quan đốc học Hà Nội lại ở khu vực này, tức là ở khoảng đất giữa phố Ngô Sĩ Liên và Trần Quý Cáp. Gần dinh Đốc học, nhà Văn Miếu hẳn là thông thường những năm thái bình yên ổn vẫn vang tiếng giảng đọc văn bài, là trường học luyện tập của các sĩ tử những tháng gần đến ngày thỉ cử, còn trường thi Hương của Hà Nội thì đặt ở phía nam huyện Thọ Xương và thi Hội thì phải vào tận Huế.

Tại đây cũng dựng lên đền Trung Liệt để đề cao những nhà đại nho hoặc danh thân bỏ mình vì nước.

Năm 1883, quân xâm lược Pháp hạ thành Hà Nội, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết theo thành ở Võ Miếu trong thành chỗ gần Cột cờ, nhân dân đã khiêng thi hài ông về dinh Đốc học để làm lễ mai táng trọng thể ở ngay gần đó. Hài cốt Hoàng Diệu sau được triều đình cải táng đưa về chôn ở quê ông tại Quảng Nam.

Vì Văn Miếu vẫn là nơi học tập của học trò Hà Nội nên dãy phố ở phía đông Văn Miếu ngày xưa còn có tên là phố Hàng Com, và phố Ngô Sĩ Liên có tên là phố Hàng Nghiên. Những xóm đó là nơi đón các thầy khóa ở xa về ăn nghỉ trong những ngày có buổi đại tập, và là nơi bán nghiên là thứ đồ dùng học tập.

Chung quanh Văn Miếu vốn là nơi đi lại tụ tập của bọn thiếu niên nho học, những con người tâm trí đầy những câu của thư ngũ kinh và cũng không thiếu những từ của thơ Đường thơ Tống mang tính chất trữ tình lãng mạn, nguồn gốc kiểu Bồ Tùng Linh, cho nên quanh đây đã đẻ ra nhiều “người đẹp trong sách hiện ra”, của Phật mà pha mùi đạo Lão. Chuyện tiên ngày xuân cũng xuống trần trẩy hội với người trần, ỡm ờ bằng thi ca: Tú Uyên gặp Giáng Kiều đến chùa Ngọc Hồ thì người đẹp biến mất; Lê Thánh Tông, ông vua thi sĩ đa tình cũng nói là được gặp tiên, cùng về đến Cửa Nam thì tiên không thấy đâu nữa, nên đã cho xây quán Vọng Tiên ở chỗ đó làm kỷ niệm. Chùa Tiên Tích ở Hàng Cỏ được dựng lên để đánh dấu vết tích của tiên xuống với người trần.

Chùa Ngọc Hồ, tục gọi là chùa Bà Ngô, được dựng ở khu vực này từ năm Kiến Gia 8 (Mậu Dần 1218) triều Lý Huệ Tông. Gọi là chùa Bà Ngô vì về đời Mạc (thế kỷ XV) chùa bị nát, có vợ một Khách trú bỏ tiền ra xây lại; chùa thờ Phật và thờ Liễu Hạnh, chúa đền Sòng; gian ngoài thờ Lê Thánh Tông là người có công mở cơ ngơi khu chùa.

Chùa Bà Nành, tên chữ là Thiên Phúc tự, cũng là một ngôi chùa cổ lớn ở phố Sinh Từ. Chùa Phổ Giác thì mới có ở khu vực này vào năm 1887; người Pháp mở mang khu hành chính ở bờ phía đông hồ Gươm đã cho di ngôi chùa Phổ Giác (tục gọi là chùa Tàu) và bia miếu Dương Võ (miếu thờ tướng tá đạo tượng binh thời Hậu Lê) về chỗ nền cũ Y Miếu thuộc đất làng Lương Sử.



 

01/12/2017

Bình Luận

Xem thêm các bài liên quan

Gửi câu hỏi

Tên bạn (*):
Email (*):
Câu Hỏi (*):